Mỗi năm Việt Nam có khoảng 44.000 thai kỳ cần được đánh giá chuyên sâu do nguy cơ dị tật bẩm sinh. Theo TS.BS Nguyễn Thị Sim, người đầu tiên thực hiện thành công can thiệp bào thai tại Việt Nam, y học bào thai chỉ thực sự mạnh khi năng lực chuyên môn được kết nối thành mạng lưới, thay vì tập trung ở một vài trung tâm lớn.
![]()
Ước tính ở nước ta có khoảng 44.000 thai kỳ cần được đánh giá chuyên sâu mỗi năm. Ảnh: Chinhphu.vn
Theo Báo Điện tử Chính phủ, khoảng 2–3% trẻ sơ sinh mắc các dị tật bẩm sinh, tương ứng gần 44.000 thai kỳ cần được đánh giá chuyên sâu mỗi năm tại Việt Nam. Đây là con số cho thấy nhu cầu rất lớn đối với lĩnh vực y học bào thai – bao gồm chẩn đoán trước sinh, tư vấn và can thiệp cho thai nhi khi cần thiết.
TS.BS Nguyễn Thị Sim, Phó Tổng Giám đốc Bệnh viện Phenikaa, được biết đến là bác sĩ đầu tiên thực hiện thành công can thiệp bào thai tại Việt Nam và là một trong những người tiên phong phát triển lĩnh vực này.
Theo TS.BS Nguyễn Thị Sim, hệ thống chăm sóc y học bào thai hiện nay vẫn còn phân mảnh. Việc phát hiện bất thường thai nhi có thể diễn ra ở nhiều cơ sở khác nhau, nhưng năng lực tư vấn chuyên sâu và can thiệp lại chỉ tập trung ở một số trung tâm.
Chuyên gia cảnh báo, nếu nơi phát hiện và nơi điều trị không được kết nối, thời gian vàng để điều trị cho thai nhi có thể bị bỏ lỡ. Với y học bào thai, thời điểm can thiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì thai kỳ tiến triển liên tục và nhiều kỹ thuật chỉ có thể thực hiện trong một giai đoạn nhất định.
Thông điệp chính được TS.BS Nguyễn Thị Sim nhấn mạnh là y học bào thai Việt Nam chỉ thực sự mạnh khi năng lực ấy có thể kết nối. Điều đó có nghĩa là cần một mạng lưới trong đó các cơ sở sàng lọc, chẩn đoán trước sinh, trung tâm tư vấn và trung tâm can thiệp phối hợp chặt chẽ, chia sẻ thông tin và chuyển tuyến kịp thời.
Trong mô hình mạng lưới, các cơ sở ở tuyến dưới đóng vai trò phát hiện sớm bất thường thai nhi qua khám thai và siêu âm, sau đó kết nối với các trung tâm chuyên sâu. Khi quy trình này thông suốt, thai phụ có thể được tư vấn và xử trí đúng lúc, giảm nguy cơ bỏ lỡ cơ hội can thiệp.
Phát triển y học bào thai theo hướng mạng lưới không chỉ nâng cao chất lượng chăm sóc thai kỳ mà còn góp phần giảm gánh nặng dị tật bẩm sinh cho gia đình và xã hội. Đây cũng là hướng đi phù hợp với định hướng phát triển hệ thống y tế kết nối, chia sẻ năng lực giữa các tuyến.
Với khoảng 44.000 thai kỳ cần đánh giá chuyên sâu mỗi năm, y học bào thai là lĩnh vực có nhu cầu lớn tại Việt Nam. Theo các chuyên gia, xây dựng mạng lưới kết nối từ phát hiện đến điều trị, thay vì chỉ phát triển những trung tâm mạnh riêng lẻ, là chìa khóa để không bỏ lỡ "thời gian vàng" cho thai nhi.
Nguồn tham khảo: Báo Điện tử Chính phủ – "Việt Nam cần một mạng lưới y học bào thai, thay vì chỉ những trung tâm mạnh" (26/9/2026).
|
{{item.Name}}
|
|
|
{{item.Name}}
|
|